Skip to main content

Qur’an – Wikipedia tiếng Việt


Al-Fatiha (سُّورَةُ الفَاتِحَة‎‎), chương đầu của Thiên kinh Qur'an với 7 câu

Qur’an (phát âm /kɔrˈɑːn/; tiếng Ả Rập: القرآنal-qur’ān có nghĩa là "sự xướng đọc") là văn bản tôn giáo quan trọng nhất của đạo Hồi.[1] Người Islam tin đây lời nói thiên khải cuối cùng của Thượng đế (tiếng Ả Rập: الله‎,[2]Allah), là nguồn gốc căn bản cho đức tin và hành động của mỗi người Islam và được coi là kiệt tác hoàn hảo nhất trong văn học Ả Rập cổ điển.[3][4][5][6] Kinh Qur'an được chia thành nhiều chương (surah trong tiếng Ả Rập) và mỗi surah lại được chia ra thành nhiều câu khác nhau.





Từ qurʼān xuất hiện khoảng 70 lần trong kinh Quran và mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó là danh động từ (maṣdar) của động từ qaraʼa (قرأ) trong tiếng Ả Rập mang nghĩa „Anh ấy đọc“ hay „Anh ấy diễn xướng“. Từ tương đương trong tiếng Syriac là qeryānā (ܩܪܝܢܐ), ám chỉ „xướng kinh“ hay „bài học“.[7] Trong khi một số học giả phương Tây cho rằng từ này bắt nguồn từ tiếng Syriac, phần đông các nhà chức trách Hồi giáo giữ quan điểm cho rằng từ này bắt nguồn từ chính qaraʼa. Bất chấp việc nó đã trở thành một thuật ngữ tiếng Ả Rập dưới thời Muhammad.[2] Một trong những ý nghĩa quan trọng của từ này đó là „nghi thức diễn xướng“ như được phản ánh trong một đoạn đầu của Quran:

إِنَّ عَلَيْنَا جَمْعَهُ وَقُرْآنَهُ
„Quả thật, TA có nhiệm vụ tom góp Nó và xướng đọc Nó (qurʼānahu)."



Trong các câu khác, từ đề cập đến "một lối đi riêng được xướng đọc [bởi Muhammad]". Bối cảnh phụng vụ của nó có thể được nhìn thấy trong một số đoạn, ví dụ: "Và khi al-qurʼān được xướng đọc, hãy lắng nghe và giữ im lặng để may ra các người nhận được hồng ân [của Allah].“[9] Từ này cũng có thể giả định ý nghĩa của một thánh kinh được hệ thống hóa khi đề cập với kinh điển khác như Ngũ Thư (Torah) và Phúc Âm.[10]

Thuật ngữ này cũng có những từ đồng nghĩa có liên quan chặt chẽ đến nó được sử dụng trong toàn thiên kinh Qur'an. Mỗi từ đồng nghĩa đều sở hữu ý nghĩa riêng biệt của nó, nhưng việc sử dụng nó có thể đồng quy với từ Qur'an trong ngữ cảnh nhất định. Những thuật ngữ này bao gồm kitāb (کتاب‎‎, sách); āyah (آية, dấu hiệu); và sūrah (سورة‎‎, kinh sách). Hai thuật ngữ sau cùng cũng đồng thời biểu thị cho sự mặc khải. Trong phần lớn văn cảnh, thường đi chung với mạo từ xác định (al-), từ này được gọi là "mạc khải" (وحي, waḥy), điều đã được "gửi xuống" (tanzīl) trong một khoảng thời gian.[11][12] Những từ có liên quan khác là: dhikr (ký ức), được sử dụng để tham chiếu đến Kinh Qur'an khi mang ý nghĩa như là một lời nhắc nhở, cảnh báo. Hikmah (حكمة, trí tuệ) đôi khi đề cập đến sự mặc khải hoặc một phần của nó.[2][13]

Qur’an tự miêu tả nó là "tiêu chuẩn phân biệt” (الفرقان, al-furqān), „Quyển kinh mẹ“ (لأم اكـتـاب, umm al-kitāb), „Chỉ đạo“ (هُدى, huda), "sự khôn ngoan" (حكمة‎‎, hikmah), "ký ức" (ذِکْر‎‎, dhikr), "mạc khải" (تنزيل, tanzīl). Những thuật ngữ khác được dùng để ám chỉ thiên kinh là al-Kitab (Sách), mặc dù trong tiếng Ả Rập, nó cũng được dùng để chỉ những thánh kinh khác như Ngũ Thư hay Phúc Âm. Thuật ngữ mus'haf („bản ghi tay“) không chỉ thường được sử dụng để chỉ những bản thảo riêng biệt của Thiên kinh Qur’an mà còn được sử dụng trong Kinh Qur'an để xác định những cuốn kinh trước nó.[2] Những bản dịch khác của từ „Qur'an" bao gồm "al-Coran", "Coran", "Kuran", và "al-Qur'an".[14]



Tín đồ Islam tin rằng Thiên kinh Qur'an là cuốn sách hướng dẫn thiêng liêng được từ Thượng đế truyền cho Muhammad thông qua thiên thần Gabriel (Jibra'il) trong vòng khoảng thời gian 23 năm và họ xem Thiên kinh Qur'an như là thiên khải cuối cùng của Thượng đế cho nhân loại.


Mạc khải trong các ngữ cảnh Qur'an hay Islam có nghĩa là lời truyền đạt của Thượng đế tới một số đông người tiếp nhận. Quá trình lời truyền đạt của thượng đế nhập tâm một vị sứ giả của ngài được gọi là tanzil (تنزيل, nghĩa là "ban xuống) hay nuzūl (لنزول, "xuống"). Như lời trong Thiên kinh Qur'an:

وَبِالْحَقِّ أَنزَلْنَاهُ وَبِالْحَقِّ نَزا
wabialhaqq 'anzalnah wabialhaqq nazal
"Và TA [Allah] đã ban Nó [Qur'an] xuống bằng sự Thật; và Nó đã xuống bằng sự Thật."



Thiên kinh Qur'an thường xuyên khẳng định trong những bản văn của nó rằng nó được ban bởi Thượng đế. Một số câu xướng trong Thiên kinh Qur'an dường như ngụ ý rằng ngay cả những người không nói tiếng Ả Rập cũng sẽ hiểu Kinh Qur'an nếu nó được đọc cho họ nghe.[16] Ngoài ra, trong thiên kinh Qur'an còn đề cập đến một "bản viết nháp" ghi lại những lời răn của Thượng đế trước khi nó được ban xuống hạ giới.[17][18]

Vấn đề liệu Thiên kinh Qur'an đã được tạo ra hay tồn tại vĩnh cửu trở thành chủ đề được tranh luận thần học (Qur'an) ở thế kỷ thứ 9. Mu'tazilas, một trường phái thần học Hồi giáo cho rằng kinh Koran đã được tạo ra dựa trên những lý do và suy nghĩ hợp lý trong khi phần đông các thần học Hồi giáo khác coi là Thiên kinh Qur'an là trường tồn cùng Thượng đế và do đó vô tác. Các nhà luận lý Sufi xem các câu này là giả tạo hay sai lầm.[19]

Các tín đồ Islam tìn rằng những lời hiện tại trong thiên kinh Qur'an tương ứng với những gì được truyền đạt cho Muhammad và theo cách diễn tấu trong Qur'an 15:9: Nó được bảo quản trước những sửa đổi (إِنَّا نَحْنُ نَزَّلْنَا الذِّكْرَ وَإِنَّا لَهُ لَحَافِظُونَ, 'inna nahn nazzalna aldhdhikr wa'inna lah lahafizun; "Quả thật, TA đã ban Dhikr xuống và chính TA sẽ bảo quản Nó").[20] Người Islam xem thiên kinh Qur'an là sự hướng dẫn và những lời răn dạy, dấu hiệu của Sứ giả Muhammad và chân lý của đức tin.


Trong lễ nghi[sửa | sửa mã nguồn]


Surah đầu tiên của Kinh Qur'an được lặp đi lặp lại trong những lời cầu nguyện hàng ngày và trong những dịp khác. Surah này, bao gồm bảy câu thơ và là surah được đọc thường xuyên nhất của Kinh Qur'an:


"Bismi Allahi alr-Rahmani alr-Rahimi. Al-Hamdu lillahi Rabbi al- 'alamina. Alr-Rahmani alr-Rahimi. Maliki yawmi ald-dini. "Iyyaka na-’budu wa-"iyyaka nasta-'inu. "Ihdinaals siratal mustaqima. Siratal ladhina an ’amta ’alayhim ghayril maghdubi ’alayhim walaald daal-liina"

"Nhân danh Allah, Ðấng Rất Mực Ðộ Lượng, Ðấng Rất Mực Khoan Dung. Mọi lời ca tụng đều dâng lên Allah, Rabb của vũ trụ và muôn loài. Ðấng Rất mực Ðộ lượng, Ðấng Rất mực Khoan dung; Ðức Vua vào Ngày Phán xử (Cuối cùng). [Ôi Allah] duy chỉ Ngài chúng tôi thờ phụng và chỉ với riêng Ngài chúng tôi cầu xin được giúp đỡ. Xin Ngài hướng dẫn chúng tôi đi theo con đường ngay chính: Con đường của những người đã được Ngài ban ân, không phải [con đường của] những kẻ làm Ngài giận dữ và cũng không phải của những ai lầm đường lạc lối."



Những phần khác của Thiên kinh Qur'an được lựa chọn để xướng trong những lời cầu nguyện hàng ngày.

Việc tôn trọng những văn bản ghi chép của Kinh Qur'an là một yếu tố quan trọng trong đức tin của nhiều người Islam và họ được đối xử với Thiên kinh Qur'an bằng sự tôn kính. Dựa trên phong tục tập quán và cách diễn tấu bằng chữ trong Qur'an Quran 56:79 ("Mà không ai được phép sờ mó ngoại trừ những vị trong sạch."), một số người Hồi giáo tin rằng họ phải thực hiện một nghi lễ tẩy rửa bằng nước trước khi chạm vào một bản sao của Kinh Qur'an, mặc dù quan điểm này không phải là phổ quát.[2] Mòn bản của Kinh Qur'an được bọc trong vải và lưu giữ vô thời hạn ở một nơi an toàn, hoặc bị chôn vùi trong một nhà thờ Hồi giáo hay một nghĩa trang Hồi giáo, hoặc bị đốt cháy và tro được chôn hoặc rải trên nước.[22]

Thần học, triết học, thần bí học và luật học Hồi giáo, đều có gắn kết với Thiên kinh Qur'an hoặc dựa trên nền tảng trên là những lời răn dạy của nó.[2] Người Islam tin rằng việc rao giảng hoặc đọc Kinh Qur'an sẽ được thưởng với những phần thưởng khác nhau gọi là của Thượng đế khác nhau như gọi ajr, thawab or hasanat.[23]


Trong nghệ thuật Islam[sửa | sửa mã nguồn]


Kinh Qur'an cũng là nguồn cảm hững cho nghệ thuật Hồi giáo và đặc biệt là cái gọi là thư pháp Qur'an.Thiên kinh Qur'an không bao giờ được trang trí với những hình ảnh mang tính tượng trưng, nhưng nhiều Qur'an được trang trí bằng các hoa văn trang trí bên lề của trang, hoặc giữa các dòng hay đoạn đầu của surah. Những câu xướng Islam còn xuất hiện trong rất nhiều phương tiện truyền thông khác, trên các tòa nhà và trên các đối tượng mọi các kích cỡ, chẳng hạn như đèn trong thánh đường, các đồ bằng kim loại, gốm sứ và các trang thư pháp trong những muraqqa hoặc album.




  1. ^ From the article on the Quran in Oxford Islamic Studies Online

  2. ^ a ă â b c d Nasr, Seyyed Hossein (2007). “Qurʼān”. Encyclopædia Britannica Online. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2007. 

  3. ^ Margot Patterson, Islam Considered: A Christian View, Liturgical Press, 2008 p.10.

  4. ^ Mir Sajjad Ali, Zainab Rahman, Islam and Indian Muslims, Guan Publishing House 2010 p.24, citing N. J. Dawood's judgement.

  5. ^ Alan Jones, The Koran, London 1994, ISBN 1842126091, opening page.

    "Its outstanding literary merit should also be noted: it is by far, the finest work of Arabic prose in existence."



  6. ^ Arthur Arberry, The Koran Interpreted, London 1956, ISBN 0684825074, p. 191.

    "It may be affirmed that within the literature of the Arabs, wide and fecund as it is both in poetry and in elevated prose, there is nothing to compare with it."



  7. ^ “qryn”. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013. 

  8. ^ Quran 75:17

  9. ^ Quran 7:204

  10. ^ See "Ķur'an, al-," Encyclopedia of Islam Online and Quran 9:111

  11. ^ Quran 20:2 cf.

  12. ^ Quran 25:32 cf.

  13. ^ According to Welch in the Encyclopedia of Islam, the verses pertaining to the usage of the word hikma should probably be interpreted in the light of IV, 105, where it is said that "Muhammad is to judge (tahkum) mankind on the basis of the Book sent down to him."

  14. ^ "Quran", “Koran”. Oxford English Dictionary (ấn bản 3). Oxford University Press. Tháng 9 năm 2005.  (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)

  15. ^ Xem:

  16. ^ Jenssen, H., "Arabic Language" in McAuliffe et al. (eds.), Encyclopaedia of the Qur'ān, vol. 1 (Brill, 2001), các trang. 127–135.

  17. ^ Sonn, Tamara (2010). Islam: a brief history . Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-4051-8093-1. 

  18. ^ Quran Quran 85:22

  19. ^ Corbin (1993), tr. 10

  20. ^ Mir Sajjad Ali; Zainab Rahman (2010). Islam and Indian Muslims. Kalpaz Publications. tr. 21. ISBN 8178358050. 

  21. ^ Quran Quran 1:1

  22. ^ “Afghan Quran-burning protests: What's the right way to dispose of a Quran?”. Slate Magazine. 

  23. ^ Sengers -, Erik (2005). Dutch and Their Gods. tr. 129. 




  • Hixon, Lex (2003). The heart of the Qurʼan: an introduction to Islamic spirituality (ấn bản 2.). Quest. ISBN 0835608220. 

  • Hawting, G.R. (1993). Approaches to the Qur'ān . Routledge. ISBN 978-0-415-05755-4. 

  • Rippin, Andrew (2006). The Blackwell companion to the Qur'an. Blackwell. ISBN 1-4051-1752-4. 

  • Tabatabae, Sayyid Mohammad Hosayn (1988). The Qur'an in Islam: Its Impact and Influence on the Life of Muslims. Routledge. ISBN 978-0-7103-0266-3. 

  • Neal Robinson, Discovering the Qur'an, Georgetown University Press, 2002. ISBN 978-1-58901-024-6

  • Sells, Michael, Approaching the Qur'ān: The Early Revelations, White Cloud Press, Book & CD edition (15 November 1999). ISBN 978-1-883991-26-5

  • Wild, Stefan (1996). The Quʼran as Text. Brill. ISBN 978-90-04-09300-3. 

  • Bell, Richard; William Montgomery Watt (1970). Bell's introduction to the Qurʼān. Edinburgh University Press. ISBN 978-0-7486-0597-2. 

  • Rahman, Fazlur (2009) [1989]. Major Themes of the Qur'an . University Of Chicago Press. ISBN 978-0-226-70286-5. 

  • Peters, F. E. (1991). “The Quest of the Historical Muhammad”. International Journal of Middle East Studies. 

  • Peters, Francis E. (2003). The Monotheists: Jews, Christians and Muslims in Conflict and Competition. Princeton University Press. ISBN 978-0-691-12373-8. 

  • Nasr, Seyyed Hossein (2007). “Qurʾān”. Encyclopædia Britannica Online. 

  • Nasr, Seyyed Hossein (2003). Islam: Religion, History and Civilization. HarperSanFrancisco. ISBN 978-0-06-050714-5. 

  • Kugle, Scott Alan (2006). Rebel Between Spirit And Law: Ahmad Zarruq, Sainthood, And Authority in Islam. Indiana University Press. ISBN 978-0-253-34711-4. 

  • Esposito, John; Yvonne Yazbeck Haddad (2000). Muslims on the Americanization Path?. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-513526-8. 

  • Corbin, Henry (1993) [1964 (bằng tiếng Pháp)]. History of Islamic Philosophy, Translated by Liadain Sherrard, Philip Sherrard. London; Kegan Paul International in association with Islamic Publications for The Institute of Ismaili Studies. ISBN 978-0-7103-0416-2. 

  • Rahman, Fazlur (2009) [1989]. Major Themes of the Qur'an . University Of Chicago Press. ISBN 978-0-226-70286-5. 

  • Allen, Roger (2000). An Introduction to Arabic literature. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-77657-8. 

Lời bình Qur'an truyền thống (tafsir):


Nghiên cứu chuyên đề:


  • Stowasser, Barbara Freyer. Women in the Qur'an, Traditions and Interpretation, Oxford University Press; Reprint edition (1 June 1996), ISBN 978-0-19-511148-4

  • Gibson, Dan (2011). Qur'anic Geography: A Survey and Evaluation of the Geographical References in the Qur'an with Suggested Solutions for Various Problems and Issues. Independent Scholars Press, Canada. ISBN 978-0-9733642-8-6.

  • McAuliffe, Jane Dammen (1991). Qurʼānic Christians: an analysis of classical and modern exegesis. New York: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-36470-6. 

  • Siljander, Mark D.; Mann, John David (2008). A Deadly Misunderstanding: a Congressman's Quest to Bridge the Muslim-Christian Divide. New York: Harper One. ISBN 9780061438288. 

Phê bình văn học:


  • M. M. Al-Azami (2003). The History of The Qur'anic Text: From Revelation to Compilation: A Comparative Study with the Old and New Testaments . UK Islamic Academy. ISBN 1-872531-65-2. 

  • Gunter Luling (2003). A challenge to Islam for reformation: the rediscovery and reliable reconstruction of a comprehensive pre-Islamic Christian hymnal hidden in the Koran under earliest Islamic reinterpretations. New Delhi: Motilal Banarsidass Publishers. (580 Seiten, lieferbar per Seepost). ISBN 978-81-208-1952-8.

  • Luxenberg, Christoph (2004). The Syro-Aramaic Reading of the Koran: a contribution to the decoding of the language of the Koran, Berlin, Verlag Hans Schiler, 1 May 2007. ISBN 978-3-89930-088-8.

  • Puin, Gerd R.. "Observations on Early Quran Manuscripts in Sana'a", in The Qurʾan as Text, ed. Stefan Wild, E. J. Brill 1996, pp. 107–111.

  • Wansbrough, John. Quranic Studies, Oxford University Press, 1977

  • Ibn Warraq (editor) (2013). Koranic Allusions: The Biblical, Qumranian, and Pre-Islamic Background to the Koran. Prometheus Books. tr. 463. ISBN 978-1616147594. 

Bách khoa toàn thư:'


Tạp chí hàn lâm:





Comments

Popular posts from this blog

1529 - Thiết kế nhìn: Trải rộng phong cách

Xem thêm hình ảnh & gt; cầu nối khoảng cách thế hệ không bao giờ dễ dàng, ngay cả khi nói đến trang trí. Nhưng Boston, dựa trên thiết kế Dennis Duffy thực hiện mà feat trong một căn hộ penthouse với phức tạp truyền cảm hứng cho Châu Âu đương đại đồ nội thất hài lòng khách hàng của mình, một người đàn ông trẻ từ Indonesia người thích nhìn của khách sạn cao cấp, như cha mẹ của ông, những người có thị hiếu truyền thống hơn. Đối với nghiên cứu, Duffy đã chọn một bức tường cây gai dầu, bao gồm trong tân nhang với một diễn viên màu trắng bạc như là một đối tác mát mẻ để ấm áp của sàn gỗ cherrywood và tấm thảm Iran Gabbeh. Khách hàng đã sở hữu một bàn nghiêng chân và một khung ghế, cả hai trong wenge; đồ họa của họ, các góc cạnh bóng đặt chuông cho phần còn lại của căn phòng. Duffy thiết kế ngu gục với một khung wenge trong một kết thúc pha cà phê bổ sung cho ghế và bàn; một chiếc gối với một đồ họa hình chữ nhật hết các motif hình học. Ông cũng tạo ra một C-shaped bảng mà trình bày qua...

557 - Thiết kế văn phòng hiện đại Foodstirs - Sarah Michelle Gellar Office

Vui vẻ. Hiện đại. Sạch sẽ. Điều đó khá nhiều tiền lên Los Angeles trụ sở của Foodstirs, khởi động nướng tạo ra bởi các nữ diễn viên Sarah Michelle Gellar cùng với bạn bè lâu năm của cô Galit Laibow và Greg Fleishman. Nó cũng chính xác miêu tả cũng như sứ mệnh của thương hiệu mang lại cho trẻ em và cha mẹ của họ với nhau trong nhà bếp. "Chúng tôi đang cố gắng để phá vỡ các ngành công nghiệp bánh với các sản phẩm làm sạch và ngon dễ làm và có thể truy cập", Laibow nói của công ty Bộ dụng cụ nướng tự làm. "Chúng tôi cũng tất cả các cha mẹ trẻ, do đó, chúng tôi thực sự muốn [office] để phản ánh nhãn hiệu của chúng tôi."  mà nó thực hiện. Giữa các cửa sổ pop của màu sắc tươi sáng và các yếu tố thiết kế quirky, không gian, trong đó đã được hoàn thành cuối tháng hai và cũng có một nhà bếp đầy đủ, cố tình phá vỡ tất cả các quy tắc của một văn phòng truyền thống- và cho tốt lý do. Amy Bartlam với một khởi động như Foodstirs, sự cần thiết để biến xung quanh những ý tưởng ...

567 - Làm thế nào để sắp xếp hoa tại nhà

Vòi sen tháng tư mang tháng Hoa. Ít nhất đó là nói rằng hầu hết chúng ta đã đến đặt trên lặp lại ngay sau khi tháng của lò xo cuộn quanh. càng nhiều càng tốt, lò xo được kết hợp với việc sắp tới của Hoa, mùa hè không phải là để được bỏ qua cho nó nở hoặc. Sau khi tất cả, ' tis mùa để ngồi lại, thư giãn, và mang trong vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh bạn. "vào mùa hè, rồi để cho sự sắp xếp của bạn cảm thấy một chút lỏng hơn. Bạn đang không nhiễu với nhau tất cả những bông hoa trong một vase, nhưng cho họ hít thở,"ông Takaya Sato, giám đốc sáng tạo của L'Atelier Rouge. "Điều này cũng cho phép những người thực sự có trong mỗi hoa riêng lẻ, tác động tổng thể của thiết kế." với chính thức bắt đầu vào mùa hè cuối cùng ở đây, chúng tôi nghĩ rằng nó là khoảng thời gian chúng tôi chải trên của chúng tôi mùa hè hoa IQ. Ở đây, Takaya Hiển thị chúng tôi làm thế nào để sử dụng nở mùa hè trong ba sắp xếp khác nhau mà bạn có thể dễ dàng tái tạo tại trang chủ. The Hoa ...