Skip to main content

Minekaze (lớp tàu khu trục) – Wikipedia tiếng Việt


Lớp tàu khu trục Minekaze (tiếng Nhật: 峯風型駆逐艦 - Minekazegata kuchikukan) là một lớp tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm tổng cộng 15 chiếc.[1] Được chế tạo vào giai đoạn 1918-1922 khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, chúng đã trở nên lạc hậu vào lúc bắt đầu Chiến tranh Thái Bình Dương của Chiến tranh Thế giới thứ hai, những chiếc trong lớp Minekaze hầu như chỉ được giao những vai trò phụ, phục vụ suốt cuộc chiến tranh như những tàu tuần tra, tàu vận chuyển tốc độ cao, và tàu chở ngư lôi cảm tử kaiten. Hầu hết chúng đều bị tàu ngầm Mỹ và Anh đánh chìm.





Việc chế tạo lớp tàu khu trục kích thước lớn Minekaze được chấp thuận như một phần trong Chương trình Hạm đội 8-4 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn năm tài chính 1917-1920, kèm theo lớp Momi cỡ trung vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[2] Được trang bị động cơ mạnh mẽ, những con tàu này có tốc độ cao và được dự định hoạt động như những tàu hộ tống cho những chiếc tàu chiến-tuần dương thuộc lớp Amagi mà cuối cùng đã không được chế tạo.[3]

Hai chiếc đã được chấp thuận cho năm tài chính 1917, rồi thêm năm chiếc cho năm tài chính 1918. Cho dù chưa có chiếc nào hoàn tất vào lúc kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Hải quân Nhật vẫn quyết định tiếp tục dự án khi nhiều tàu khu trục cũ hơn cần phải được thay thế. Thêm năm chiếc nữa được đặt hàng cho năm tài chính 1919, và cuối cùng là ba chiếc cho năm tài chính 1920. Tuy nhiên, ba chiếc cuối cùng được chế tạo theo một thiết kế khác biệt và có dáng vẽ đủ phân biệt đến mức có thể xem là một lớp phụ riêng biệt.[2] Các tàu khu trục mới là những con tàu nhanh và mạnh mẽ so sánh được với những chiếc đương thời của nước ngoài.[4]



Là một thế hệ trung gian giữa những con tàu được thiết kế ở nước ngoài trong những năm đầu thế kỷ và các lớp tàu khu trục "kiểu đặc biệt" KageroFubuki đầy sáng tạo trong những năm 1930, lớp Minekaze đánh dấu sự dịch chuyển đáng kể trong thiết kế của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Minekaze đại diện cho sự tách biệt hoàn toàn khỏi thông lệ trước đây vốn theo sát phương pháp và thiết kế của Anh Quốc.

Lớp tàu khu trục mới tích hợp một số cải tiến về thiết kế đặc trưng, bao gồm tháp cấu trúc thượng tầng phía trước được kéo dài với một khoảng hở tạo ra một sàn tàu ngay phía trước cầu tàu. Cách sắp xếp này cho phép có một sàn thấp được bảo vệ một phần dành cho các ống phóng ngư lôi phía trước đổi lại việc chúng bị ướt khi biển động.[5]

Hệ thống động lực sử dụng bốn nồi hơi Kampon vận hành hai trục turbine hơi nước hộp số có công suất 38.500 mã lực, cho phép nó đạt được tốc độ tối đa 72 km/h (39 knot). Tuy nhiên, giống như những thiết kế trước, việc tiêu thụ nhiên liệu cao làm hạn chế tầm xa hoạt động.

Vũ khí trang bị bao gồm bốn hải pháo 120 mm/45 li Kiểu 3, sáu ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) bố trí trên ba bệ nòng đôi và hai súng máy 7,7 mm. Những con tàu của lớp còn có thể mang theo cho đến 20 mìn sâu.[6]


Lớp phụ Nokaze[sửa | sửa mã nguồn]


Hình ảnh nhận dạng lớp Minekaze của Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ

Ba chiếc cuối cùng trong loạt của Minekaze tích hợp một số cải tiến có được do kinh nghiệm hoạt động, và đã hình thành nên một lớp phụ. Khác biệt chính yếu là sự sắp xếp vũ khí phía sau tàu. Trên lớp Minekaze, các khẩu pháo phía sau được đặt trên sàn dọc theo trục giữa, với hai bệ ống phóng ngư lôi chen giữa chúng. Điều này đã hạn chế nặng nề góc bắn của pháo số 3. Thiết kế cải tiến có hệ thống kiểm soát hỏa lực tốt hơn và cải thiện việc sắp xếp hầm đạn. Các vị trí pháo và ngư lôi được thay đổi: pháo số 3 trước đây đặt sau ống khói thứ hai được di chuyển lui hơn về phía sau đến vị trí "X". Các bệ phóng ngư lôi số 2 và số 3 đặt sát lại với nhau, và bệ đèn pha tìm kiếm trước đây bố trí giữa chúng được chuyển ra phía trước ngay sau ống khói thứ hai.[3]



Được đưa vào hoạt động trong những năm 1920, lớp Minekaze là lực lượng nòng cốt trong các hải đội tàu khu trục của Hải quân Đế quốc Nhật Bản cho đến những năm 1930, khi được thay thế dần dần bởi những kiểu tiên tiến hơn.

Năm 1938, Okikaze được tháo dỡ vũ khí, nhưng vào năm 1941 khi chiến tranh đến gần, nó được tái vũ trang. Những chiếc NadakazeShimakaze được xếp loại lại thành những tàu tuần tra vào các năm 1939 và 1940 tương ứng. Năm 1939 Sawakaze được sử dụng như một tàu cứu hộ máy bay cho Căn cứ Không lực Hải quân Tateyama, nhưng được cho quay lại vai trò ban đầu sau khi chiến tranh nổ ra.[6]



































































Tàu
Đặt lườn
Hạ thủy
Hoạt động
Số phận
Minekaze (峯風)
20 tháng 4 năm 1918
8 tháng 2 năm 1919
29 tháng 5 năm 1920
Bị đánh chìm phía Đông Đài Loan 23°12′B 121°30′Đ / 23,2°B 121,5°Đ / 23.200; 121.500 10 tháng 2 năm 1944
Sawakaze (澤風)
7 tháng 1 năm 1918
7 tháng 1 năm 1919
6 tháng 3 năm 1920
Ngừng hoạt động 15 tháng 9 năm 1945; đánh chìm 1948
Okikaze (沖風)
22 tháng 2 năm 1919
3 tháng 10 năm 1919
17 tháng 8 năm 1920
Bị đánh chìm phía Nam Yokosuka 35°02′B 140°12′Đ / 35,033°B 140,2°Đ / 35.033; 140.200 10 tháng 1 năm 1943
Shimakaze (島風)
5 tháng 9 năm 1919
31 tháng 3 năm 1920
15 tháng 11 năm 1920
Tàu tuần tra PB-1 1 tháng 4 năm 1940;
Bị đánh chìm phía Tây Kavieng 02°51′N 149°43′Đ / 2,85°N 149,717°Đ / -2.850; 149.717; xóa đăng bạ 10 tháng 2 năm 1943
Nadakaze (灘風)
9 tháng 1 năm 1920
26 tháng 6 năm 1920
30 tháng 9 năm 1921
Tàu tuần tra PB-2 1 tháng 4 năm 1940;
Bị đánh chìm eo biển Lombok 07°06′N 115°42′Đ / 7,1°N 115,7°Đ / -7.100; 115.700 25 tháng 7 năm 1945
Yakaze (矢風)
15 tháng 8 năm 1918
10 tháng 4 năm 1920
19 tháng 7 năm 1920
Tàu huấn luyện Trường Ngư lôi 20 tháng 7 năm 1942; mất trong một vụ nổ 20 tháng 7 năm 1945
Hakaze (羽風)
11 tháng 11 năm 1918
21 tháng 6 năm 1920
16 tháng 9 năm 1920
Bị đánh chìm phía Tây Nam Kavieng 02°47′N 150°38′Đ / 2,783°N 150,633°Đ / -2.783; 150.633;
Shiokaze (汐風)
15 tháng 5 năm 1920
22 tháng 10 năm 1920
29 tháng 7 năm 1921
Ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945; đánh chìm 1948
Akikaze (秋風)
7 tháng 6 năm 1920
14 tháng 12 năm 1920
16 tháng 9 năm 1921
Bị đánh chìm phía Tây Luzon 16°48′B 117°17′Đ / 16,8°B 117,283°Đ / 16.800; 117.283 3 tháng 11 năm 1944
Yukaze (夕風)
14 tháng 12 năm 1920
28 tháng 4 năm 1921
24 tháng 8 năm 1921
Ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945; chiến lợi phẩm cho Anh 14 tháng 8 năm 1947
Tachikaze (太刀風)
18 tháng 8 năm 1920
31 tháng 3 năm 1921
5 tháng 12 năm 1921
Bị đánh chìm tại Truk 07°04′B 151°55′Đ / 7,067°B 151,917°Đ / 7.067; 151.917 17 tháng 2 năm 1944
Hokaze (帆風)
30 tháng 11 năm 1920
12 tháng 7 năm 1921
22 tháng 12 năm 1921
Bị đánh chìm phía Bắc Celebes 03°24′B 125°28′Đ / 3,4°B 125,467°Đ / 3.400; 125.467 6 tháng 7 năm 1944
Nokaze (野風)
16 tháng 4 năm 1921
1 tháng 10 năm 1921
31 tháng 3 năm 1922
Bị đánh chìm ngoài khơi vịnh Cam Ranh 12°48′B 109°38′Đ / 12,8°B 109,633°Đ / 12.800; 109.633 20 tháng 2 năm 1945
Namikaze (波風)
7 tháng 11 năm 1921
24 tháng 6 năm 1922
11 tháng 11 năm 1922
Ngừng hoạt động 5 tháng 10 năm 1945
Chiến lợi phẩm cho Trung Hoa Dân Quốc 3 tháng 10 năm 1947, tháo dỡ 1960
Numakaze (沼風)
10 tháng 8 năm 1921
22 tháng 5 năm 1922
24 tháng 7 năm 1922
Bị đánh chìm phía Tây Nam Okinawa 26°29′B 128°26′Đ / 26,483°B 128,433°Đ / 26.483; 128.433 19 tháng 12 năm 1943


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]



Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]


  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 

  • Evans, David (1979). Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy, 1887-1941. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-192-7. 

  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 

  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 

  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 

  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Comments

Popular posts from this blog

1529 - Thiết kế nhìn: Trải rộng phong cách

Xem thêm hình ảnh & gt; cầu nối khoảng cách thế hệ không bao giờ dễ dàng, ngay cả khi nói đến trang trí. Nhưng Boston, dựa trên thiết kế Dennis Duffy thực hiện mà feat trong một căn hộ penthouse với phức tạp truyền cảm hứng cho Châu Âu đương đại đồ nội thất hài lòng khách hàng của mình, một người đàn ông trẻ từ Indonesia người thích nhìn của khách sạn cao cấp, như cha mẹ của ông, những người có thị hiếu truyền thống hơn. Đối với nghiên cứu, Duffy đã chọn một bức tường cây gai dầu, bao gồm trong tân nhang với một diễn viên màu trắng bạc như là một đối tác mát mẻ để ấm áp của sàn gỗ cherrywood và tấm thảm Iran Gabbeh. Khách hàng đã sở hữu một bàn nghiêng chân và một khung ghế, cả hai trong wenge; đồ họa của họ, các góc cạnh bóng đặt chuông cho phần còn lại của căn phòng. Duffy thiết kế ngu gục với một khung wenge trong một kết thúc pha cà phê bổ sung cho ghế và bàn; một chiếc gối với một đồ họa hình chữ nhật hết các motif hình học. Ông cũng tạo ra một C-shaped bảng mà trình bày qua...

557 - Thiết kế văn phòng hiện đại Foodstirs - Sarah Michelle Gellar Office

Vui vẻ. Hiện đại. Sạch sẽ. Điều đó khá nhiều tiền lên Los Angeles trụ sở của Foodstirs, khởi động nướng tạo ra bởi các nữ diễn viên Sarah Michelle Gellar cùng với bạn bè lâu năm của cô Galit Laibow và Greg Fleishman. Nó cũng chính xác miêu tả cũng như sứ mệnh của thương hiệu mang lại cho trẻ em và cha mẹ của họ với nhau trong nhà bếp. "Chúng tôi đang cố gắng để phá vỡ các ngành công nghiệp bánh với các sản phẩm làm sạch và ngon dễ làm và có thể truy cập", Laibow nói của công ty Bộ dụng cụ nướng tự làm. "Chúng tôi cũng tất cả các cha mẹ trẻ, do đó, chúng tôi thực sự muốn [office] để phản ánh nhãn hiệu của chúng tôi."  mà nó thực hiện. Giữa các cửa sổ pop của màu sắc tươi sáng và các yếu tố thiết kế quirky, không gian, trong đó đã được hoàn thành cuối tháng hai và cũng có một nhà bếp đầy đủ, cố tình phá vỡ tất cả các quy tắc của một văn phòng truyền thống- và cho tốt lý do. Amy Bartlam với một khởi động như Foodstirs, sự cần thiết để biến xung quanh những ý tưởng ...

567 - Làm thế nào để sắp xếp hoa tại nhà

Vòi sen tháng tư mang tháng Hoa. Ít nhất đó là nói rằng hầu hết chúng ta đã đến đặt trên lặp lại ngay sau khi tháng của lò xo cuộn quanh. càng nhiều càng tốt, lò xo được kết hợp với việc sắp tới của Hoa, mùa hè không phải là để được bỏ qua cho nó nở hoặc. Sau khi tất cả, ' tis mùa để ngồi lại, thư giãn, và mang trong vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh bạn. "vào mùa hè, rồi để cho sự sắp xếp của bạn cảm thấy một chút lỏng hơn. Bạn đang không nhiễu với nhau tất cả những bông hoa trong một vase, nhưng cho họ hít thở,"ông Takaya Sato, giám đốc sáng tạo của L'Atelier Rouge. "Điều này cũng cho phép những người thực sự có trong mỗi hoa riêng lẻ, tác động tổng thể của thiết kế." với chính thức bắt đầu vào mùa hè cuối cùng ở đây, chúng tôi nghĩ rằng nó là khoảng thời gian chúng tôi chải trên của chúng tôi mùa hè hoa IQ. Ở đây, Takaya Hiển thị chúng tôi làm thế nào để sử dụng nở mùa hè trong ba sắp xếp khác nhau mà bạn có thể dễ dàng tái tạo tại trang chủ. The Hoa ...